Ai tổ chức tấn công thương điếm Anh ở Côn Đảo năm 1705?

TS Trần Thanh Ái (Bài đã đăng trên tạp chí Xưa & Nay, số tháng 9 năm 2019) Trong một bài viết trước[1], chúng tôi đã xác minh là thương điếm Anh đã bị tấn công vào đêm 2 rạng sáng ngày 3 tháng 3 năm 1705. Ai đã tấn công? Tại sao họ…

TS Trần Thanh Ái

(Bài đã đăng trên tạp chí Xưa & Nay, số tháng 9 năm 2019)

Trong một bài viết trước[1], chúng tôi đã xác minh là thương điếm Anh đã bị tấn công vào đêm 2 rạng sáng ngày 3 tháng 3 năm 1705. Ai đã tấn công? Tại sao họ tấn công? Đối với nhiều người, hai câu hỏi này có vẻ thừa thải, vì trên nhiều sách báo hiện nay người ta thường giải thích đó là cuộc nổi loạn của toán lính người Macassar vì người Anh không trả họ về quê quán sau 3 năm phục vụ như hợp đồng đã ký với họ. Nhưng đối với các nhà khoa học, mọi kiến thức dù có vè hiển nhiên đến đâu chăng nữa, cũng đều cần phải được soi rọi lại mỗi khi xuất hiện dữ liệu mới có thể bổ sung, điều chỉnh, thậm chí phản bác lại kiến thức được xem là hiển nhiên đó.

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ giới thiệu những tư liệu mới đọc được trong kho tàng tài liệu số hóa của người Anh được truy cập tự do trên internet từ hơn 10 năm nay, góp phần giải thích sự kiện lịch sử này. Trước khi tìm hiểu về cội nguồn của cuộc xung đột đẫm máu trên đảo, chúng tôi sẽ giới thiệu thành phần dân cư sinh sống tại Côn Đảo vào cuối thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18, cũng như khách vãng lai, vì chắc chắn họ có một vai trò nào đó trong cuộc xung đột này.

  1. Về con người trên đảo

Một số tài liệu cho rằng vào cuối thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18, Côn Đảo là đảo hoang, không có người ở. Thậm chí, có tài liệu còn cho rằng Nguyễn Ánh và đoàn tùy tùng của ông là những người Việt Nam đầu tiên đặt chân đến Côn Đảo sau khi bị quân Tây Sơn truy đuổi vào những năm đầu thập niên 1780 : “đây là lần đầu tiên trên hòn đảo này có những người Việt Nam đến sinh sống” (Dương Kiều Linh 2013, tr.87). Tuy nhiên, nhiều tài liệu phương Tây đã ghi nhận sự hiện diện của người Việt trên đảo này từ rất sớm.

1.1 Dân cư sinh sống trên Côn Đảo cuối thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18

Sau khi bị bắt vì tội truyền bá đạo Gia tô và bị giam giữ ở Quảng Đông, nhà truyền giáo người Tây Ban Nha Domingo Fernandez Navarette đã tìm cách thoát khỏi nhà giam rồi lên đường về châu Âu vào năm 1669. Cuộc hành trình được ông kể lại khá tỉ mỉ trong quyển Tratados Historicos, Politicos, Ethicos, y Religiosos de la Monarchia de China xuất bản năm 1676 tại Madrid[2], trong đó có đoạn nói về Côn Đảo: khi thuyền của ông dừng chân lại Côn Đảo để bổ sung thực phẩm tươi sống, ông đã có ghi chép sơ lược về nơi dừng chân này. Những ghi chép ấy cho thấy rằng Côn Đảo đã có người cư ngụ, tuy nhiên ông không cho biết lai lịch của dân cư ở đây:

“Chúng tôi đến đảo Pulocondor, là một đảo rộng và có rừng cây rậm rạp. Người dân ở đây mang trái cây đến bổ sung chất tươi cho chúng tôi. Họ mang theo trên người một con thú nhỏ mà người Bồ Đào Nha gọi là Perguiza. Đó là con lười, nó có dáng vẻ kỳ lạ, cử động chậm chạp của nó và hình dáng bên ngoài của nó dường như là biểu tượng rất hợp với con lười.” (Navarette 1704, tr.300)

Hơn mười năm sau, Công ty Đông Ấn Pháp cử một nhân viên tên là Véret[3] đến Côn Đảo để tìm hiểu tình hình. Trong một bức thư đề ngày 5 tháng 11 năm 1686, ông đã hé lộ sự hiện diện của người Việt qua cách gọi tên đảo: “Dân cư ở đây gọi đảo này là Conon, một số người Pháp gọi là đảo Orléans. Người ta có thể trông thấy đảo từ khoảng cách 16 dặm lớn[4], khi trời quang đãng.” (Cordier 1883, tr.304). Thật vậy, Conon chỉ có thể là cách mà người Pháp dùng để phỏng âm tên đảo mà người Việt thời ấy gọi là Côn Nôn; điều đó cho phép ta suy luận rằng khi tìm hiểu tình hình Côn Đảo, Véret đã tiếp xúc với người Việt sinh sống trên đảo thời bấy giờ.

Chỉ vài tháng sau đó, nhà hàng hải lừng danh người Anh W. Dampier đã ghé đảo và đã có nhiều mô tả cụ thể hơn về đất nước, con người trên đảo. Trong quyển A New Voyage round the World xuất bản năm 1699 tại London, ông ghi lại cuộc hành trình vòng quanh thế giới bắt đầu từ Đại Tây dương rồi qua Thái Bình Dương và về Ấn Độ dương. Ngày 14 tháng 3 năm 1687 Dampier cập bến Côn Đảo và ở lại đó hơn 1 tháng để sửa chữa thuyền. Trong thời gian đó, ông đã có dịp khảo sát tổng quát, từ động thực vật đến dân cư sinh sống trên đảo, qua đó cho thấy rằng sự hiện diện của người Việt trên đảo mà Véret đã ghi nhận là hoàn toàn chính xác.

“Dân cư trên đảo này là người Đàng Trong, như họ đã nói với chúng tôi, dù một người trong số họ nói giỏi tiếng Mã Lai[5], là ngôn ngữ mà chúng tôi đã biết nói lõm bõm, và một số người trong thuyền của chúng tôi đã học nói khá tốt, khi chúng tôi neo đậu tại Mindanao; và đó là ngôn ngữ chung trong giao dịch và buôn bán ở đa số các quần đảo Đông Ấn (mặc dù nó không phải là tiếng mẹ đẻ của nhiều người trong bọn họ), nghĩa là một Lingua Franca[6] của các vùng này, có thể cho là như vậy” (Dampier 1699, tr. 394)

Chiếc Cygnet của nhà du hành vòng quanh thế giới W. Dampier (1651-1715) đang được sửa chữa.

Dampier còn cung cấp nhiều thông tin liên quan đến kế sinh nhai của cư dân ở đây, và các chi tiết này càng củng cố vững chắc gốc gác của họ: Dampier cho biết cư dân đảo vẫn liên hệ khá mật thiết với đất liền qua trao đổi thương mại, mặc dù vào thời bấy giờ phương tiện đi biển còn thô sơ:

“Công việc chủ yếu của họ là rút nhựa của những cây mà tôi đã mô tả ở trên, để làm hắc ín. Họ đựng chất đó trong những cái máng bằng gỗ, và khi đã có đủ một chuyến hàng thì họ chở về xứ Đàng Trong, là quê hương của họ[7]. Một số khác thì đi bắt rùa, và đun mỡ của chúng tan chảy ra để làm dầu, rồi chở về nhà.” (Dampier 1699, tr. 395)

Bên cạnh sự hiện diện của người Việt trên đảo, còn có người Khmer, như ghi nhận của Lockyer khi ông ghé đảo vào năm 1704: “Côn Đảo là một đảo nằm ở vĩ độ 80 55’ Bắc thuộc quyền cai trị của vua xứ Đàng Trong, ở đó có người xứ Đàng Trong và người Campuchia sinh sống.” (Lockyer 1711, tr. 77)

1.2 Khách vãng lai

Cũng trong thư đề ngày 5 tháng 11 năm 1686 đã nói ở trên, Verret cho biết về các hoạt động nhộn nhịp trên vùng biển này:

“Poulo-Condore là hòn đảo thích hợp nhất cho việc đặt một thương điếm… Đảo có 3 hải cảng tốt, nhiều con suối nhỏ và một con sông, một thảm thực vật dễ chịu nhất thế giới. Các tàu thuyền Trung Hoa, xứ Đàng Ngoài, Macao, Manilla, xứ Đàng Trong, vv. mua bán với các nước vùng Đông Ấn đều đến do thám đảo này, cũng như là các tàu thuyền vùng Đông Ấn hoặc Anh, Hà Lan muốn đi Trung Hoa đều phải đi ngang qua đây.” (Septans 1887, tr. 50)

Qua tường thuật của Dampier, chúng ta cũng có thêm những thông tin cụ thể cho thấy rằng Côn Đảo đã từng là nơi dừng chân tránh thời tiết xấu của tàu thuyền đi từ Nam lên các nước phương Bắc. Ngày 24 tháng 5 năm 1687, một chiếc thuyền to của người Trung Hoa chở đầy hồ tiêu đi từ Palimbam[8] phải thả neo ở vịnh Côn Đảo. Trong lần đi Hòn Khoai (Pulo Uby) tìm mua cá khô để làm thực phẩm dự trữ, khi trở về Côn Đảo, Dampier đã đụng độ một thuyền nhỏ của người Mã Lai, có lẽ là cướp biển, đang neo cạnh đảo. Thủy thủ đoàn của thuyền này gồm 20 người, đều được trang bị bằng dao găm. Do tưởng là người của Dampier định tấn công họ nên họ hạ sát 5-6 người Anh. Thế là đoàn tùy tùng của Dampier tràn qua thuyền của cướp biển để trả thù, và người Malayan phải trốn vào rừng (Dampier, tr. 401-402).

Người Trung Hoa là khách hàng thường xuyên đến buôn bán ở đây từ khi thương điếm ở Chusan đóng cửa. Ban đầu họ chuyên chở vật liệu bán cho người Anh xây dựng cơ ngơi, như Trần Luân Quýnh đã viết trong Hải Quốc Văn Kiến Lục (1730):

“Vào thời Khang Hy thứ 45, 46 [1706-1707] Hồng Mao [Anh] lại mưu lấy Côn Lôn. […] Có thuyền buôn Trung Quốc chở gạch ngói đến bán cho Hồng Mao; thứ hàng này vốn ít, mà lời nhiều.” (Hồ Bạch Thảo, 2019)

Sau đó họ đóng vai trò trung gian lưu chuyển hàng hóa giữa Trung Hoa, Nhật và châu Âu:

“Năm nay [1704] có 10 thuyền buôn Trung Hoa đến đây, với nhiều hàng hóa hơn là họ có thể bán, thế là hàng của nước này rất rẻ, đặc biệt là hàng Nhật, là thứ mà họ buộc phải mang trở về Quảng Đông rất nhiều, rồi các nhân viên thương mại của tàu Kent sẽ mang đi châu Âu. Mỗi thuyền cặp bến phải trả 10 đô la cho nhân viên phụ trách sổ sách.” (Lockyer 1711, tr.87)

Lockyer còn kịp ghi những mánh khóe buôn bán quen thuộc của người Trung Hoa:

“Người Trung Hoa đến buôn bán với thương điếm mới của chúng ta ở đây đã thu gom được số lượng lớn cả hai loại sản vật địa phương [nhục đậu khấu và hạt khác], để trộn lẫn với thứ thiệt và bán cho đồng bào của họ khi trở về.” (Lockyer 1711, tr.80-81)

  1. Về lực lượng chiếm đảo

Đề cập đến đội quân chiếm đảo, Đại Nam Thực lục ghi là năm 1702 giặc biển người Man An Liệt đi trên 8 thuyền cập bến đảo Côn Lôn cùng với đoàn tùy tùng hơn 200 người lập đồn trại, bốn mặt đều có đặt đại bác (tr.115), trong đó có người Chà Và (tr.117). Người Man An Liệt tức là người Anh, và người Chà Và (phỏng âm của chữ Java), thường được dùng để chỉ các cư dân sống trên vùng biển đảo Đông Nam Á. Việt Nam Tân Tự Điển của Thanh Nghị do nhà Thời Thế xuất bản năm 1951 (Sài Gòn) giải thích:

Chà (danh từ): Tiếng Chà Và nói tắt. Chà Và : Tiếng chỉ chung xứ Ấn Độ, xứ Mã Lai,; người Ấn Độ, người Mã Lai, Java (Indien, Malais, Javanais). (tr. 232-233)

Dựa trên những gì mình đã tận mắt chứng kiến vào năm 1714, Lockyer liệt kê chi tiết hơn tài liệu của Quốc Sử Quán triều Nguyễn:

“Khi tôi đến [Côn Đảo], họ đã bố trí nhiều ụ súng với mật độ bình thường, khoảng 45 người châu Âu (bao gồm binh lính và người phục vụ), 7-8 người da đen theo đạo Thiên Chúa[9], và 15-16 người Bugos.” (Lockyer 1711, tr.77-78)

Thế mà nhiều tài liệu về cuộc xung đột ở Côn Đảo năm 1705 thường nhắc đến đội lính người Macassar mà Công ty Đông Ấn Anh thường thuê mướn trong các chuyến hải hành. Trong cùng đoạn văn trên, Lockyer cung cấp thêm nhiều chi tiết rõ hơn:

“Họ là dân của Vương quốc Bugos, nằm trên đảo Celebes gần Maccassar, được Ông Landon tuyển mộ trong cuộc chiến tranh của Công ty với người Banjar trên đảo Borneo, và được giới thiệu lại cho Ông Catchpole ở Batavia, khi ông đang chuẩn bị đặt cơ sở ở đây.” (Lockyer 1711, tr. 78)

Macassar là thủ phủ của đảo Célèbes, đồng thời cũng là tên một tộc người sống trên đảo này, mà ngày nay được gọi là Sulawesi, còn Bugos hay Bugis là một tộc người đông dân nhất của đảo. Họ là những người đi biển sành sõi nên các thương thuyền phương Tây thường thuê họ làm người dẫn đường hoặc những công việc nặng nhọc trên các chuyến hải hành. Vì cả hai tộc người này cùng nguồn gốc với người dân Liên bang Malaysia (ngày xưa thường được gọi là Mã-Lai-Á) thuộc tộc người Mã Lai, nên nhiều tài liệu gọi lính Macassar là người Mã Lai.

Theo ghi chép của Lockyer từ lời tường thuật của một nhân viên trốn thoát tên là Moises Wilkins, cuộc tấn công đã gây ra thiệt hại nặng nề cho Công ty Đông Ấn: 18 người chết tại chỗ, 11 người đã xuống thuyền vượt biển sống sót trở về Johor (trong đó có Moises Wilkins), 13 người tận mắt chứng kiến giờ khắc cuối cùng của thảm kịch, sau đó bị hạ sát, trừ 1 người bị bắt giải về xứ Đàng Trong; tất cả đều có họ tên đầy đủ. (Lockyer 1711, tr.89-90)

  1. Về chủ quyền Côn Đảo

Những ghi chép trong Đại Nam Thực lục về sự kiện Côn Đảo trong các năm 1702-1705 đã dẫn bên trên cho thấy rằng vào thời ấy chúa Nguyễn đã kiểm soát trên thực tế tình hình trên Côn Đảo. Nhiều tài liệu của người phương Tây cũng có ghi nhận tương tự: Gemelli Careri, một tiến sĩ luật người Ý, bắt đầu cuộc du hành vòng quanh thế giới vào năm 1693, cũng đã có dịp đi ngang qua Côn Đảo và được cung cấp vài thông tin như sau:

“Ngày thứ sáu 22 [tháng 7 năm 1695], chúng tôi trông thấy Côn Đảo, một hòn đảo thuộc quyền cai trị của vua xứ Đàng Trong, nhưng không có người ở, một số dân Đàng Trong thường tới lui đảo vào một khoảng thời gian nào đó trong năm để đốn gỗ và thu hoạch sản phẩm của đảo, như bắp, chuối và cam[10]. Đảo dài 8 dặm và bề ngang cũng chừng ấy. Những cơn mưa bão ập xuống mỗi ngày như chúng tôi đã trải nghiệm, là nguyên nhân khiến người ta không định cư ở đó.” (Careri, 1704, tr.283)

Người cung cấp thông tin có lẽ là nhà truyền giáo người Ý tên là Joseph Candone mà Careri đã nhắc đến, cả hai cùng đi trên chuyến tàu S. Rosaire. Linh mục Candone là người có nhiều kinh nghiệm ở nước ta, vì đã hành đạo ở xứ Đàng Trong trên 12 năm, vì thế những thông tin này rất đáng tin cậy.

Nhiều bằng chứng quyền cai trị của xứ Đàng Trong trên Côn Đảo còn có thể được tìm thấy qua thư từ của những người có liên quan trong năm 1703:

“Qua thư từ trong năm 1703, người ta thấy rằng địa điểm này vào thời ấy đã thuộc về vua xứ Đàng Trong. Vào năm ấy, sau nhiều cuộc tranh luận, một thương điếm đã được lập ở đó, dưới sự chỉ huy của ông Allen Catchpole.” (Asiatic Journal, 1822, tr.6)

  1. Về nguyên nhân cuộc tấn công đẫm máu

Những thông tin được liệt kê bên trên khiến chúng ta phải nghi vấn về những cách giải thích đơn giản nguyên nhân của cuộc “nổi loạn” của lính Macassar là “do người Anh vi phạm hợp đồng lao động” (Hamilton 1724, tr.206); “bị đe dọa vì đã để cho hai nô lệ trốn thoát trong phiên gác của họ” (Lockyer 1711, tr.90-91); là do “Hồng Mao không hợp thuỷ thổ nên chết nhiều” (Hồ Bạch Thảo, 2019); hoặc “vì họ không thu được lợi lộc gì cả” như cách hiểu hời hợt của Deidier, một kỹ sư hoàng gia Pháp, được cử đến Côn Đảo vào năm 1721 để thu thập thông tin về đảo (d’Après de Mannevillette 1745, tr.165).

Một tác giả người Anh, thuyền trưởng Cope, có đề cập đến thái độ của cư dân sống trên Côn Đảo đối với sự đổ bộ của người Anh, và phản ứng của chúa Nguyễn, là những chi tiết hiếm hoi được nhác đến trong các tài liệu do người Anh biên soạn:

“Công ty Đông Ấn mới[11] đã đặt một thương điếm ở đây [Côn Đảo] và xây một đồn lũy để bảo vệ vào năm 1702, mà không hỏi ý kiến của dân chúng. Họ bắt đầu tỏ ra bất mãn về sự xâm nhập vào xứ sở của họ, và báo cho nhà vua xứ Đàng Trong.” (Cope 1754, tr.142-143)

Ngoài những nguyên nhân đã liệt kê bên trên, có một số tài liệu đáng tin cậy nêu ra vai trò của người xứ Đàng Trong như là nhân tố chủ yếu trong cuộc tấn công ngày 3 tháng 3 năm 1705. Biên niên sử của Công ty Đông Ấn Anh ghi nhận những nghi vấn về sự nhúng tay của quan quân triều Nguyễn, nhưng không đưa ra kết luận nào cả:

“Về sự phản bội này, người Mã Lai đã bị nghi là do người xứ Đàng Trong xúi giục, rằng họ có thể đã chiếm giữ số tài sản còn lại của Công ty, được ước lượng khoảng 22.000 lạng bạc” (Bruce 1810, tr.607)

Từ điển Bách khoa toàn thư London Encyclopaedia (1829) thì nói thẳng đó là cuộc tấn công của người xứ Đàng Trong:

“Pulo Condore, một hòn đảo nằm trên Ấn Độ dương [sic], gần bờ biển của xứ Đàng Trong. Đảo có một cảng biển tuyệt vời; khiến Công ty Đông Ấn Anh xây dựng một thương điếm ở đây vào năm 1702, nhưng một xung đột xảy ra, đa số nhân viên của thương điếm bị người xứ Đàng Trong sát hại, và số còn lại bị đuổi đi vào năm 1705.” (Tegg & Curtis 1829, tr.318)

Quốc Sử Quán triều Nguyễn cung cấp những thông tin của người trong cuộc, với một số chi tiết về cuộc xung đột này; đó không chỉ là cuộc nổi loạn của quân lính Macassar, mà chính là đòn trừng phạt công ty Đông Ấn của Anh vì đã không tuân thủ luật lệ của xứ Đàng Trong:

“Trấn thủ Trấn Biên Trương Phước Phan mộ 15 người Chà Và sai làm kế trá hàng đảng An Liệt để thừa chúng sơ hở thì giết. Bọn An Liệt không biết. Ở Côn Lôn hơn một năm không thấy Trấn Biên xét hỏi, tự lấy làm đắc chí. Người Chà Và nhân đêm phóng lửa đốt trại, đâm chết nhất ban, nhị ban, bắt được ngũ ban trói lại, còn tam ban, tứ ban thì theo đường biên trốn đi. Phước Phan nghe tin báo, tức thì sai binh thuyền ra Côn Lôn, thu hết của cải bắt được dâng nộp. Chúa trọng thưởng người Chà Và và tướng sĩ theo thứ bực. Tên ngũ ban thì đóng gông giải đi, chết ở dọc đường. (2002, tr.117)

Phần lớn các thông tin này đã được xác minh qua bức thư của Cunningham, là người bị bắt giải về đất liền, gửi cộng sự ở Trung Hoa. Thư này đã được Lockyer (1711) chép lại đầy đủ trong các tr. 90-95:

– Đêm 2 rạng sáng ngày 3 tháng 3, khi lính Macassar phóng hỏa đồn canh thì Cunningham chạy về phía người xứ Đàng Trong để tìm sự giúp đỡ, và sau đó bị giải về đất liền, một số khác thì xuống thuyền chạy ra biển.

– Vào ngày 18 [tháng 3 năm 1705], 4 chiếc thuyền cùng với nhiều ghe bầu được phái từ Bà Rịa đến đó, tổng cộng đến 65 chiếc, với lực lượng hung hậu gồm 300 binh lính, cộng với khoảng gần 300 người dân xứ Đàng Trong đang sinh sống trên đảo (tr.92-93)

– Ngày 7 tháng 4 Cunningham bị đưa qua thuyền của người Đàng Trong có binh lính canh gác và đưa về đất liền.

– 28 tháng 4 Cunningham bị đóng gông, giải ra công đường ở Bà Rịa. Ở đó, ông ta bị cật vấn về 3 vụ việc như sau :

“Thứ nhất, khi người Anh đến Côn Đảo, họ nói là họ sẽ ở lại đó dù cho vua xứ Đàng Trong có muốn hay không. Thứ hai, năm rồi, không gửi sứ thần cũng không gửi phẩm vật cho triều đình. Thứ ba, chúng ta đã gửi một thuyền đi Campuchia và không báo cho quan trấn thủ biết” (Lockyer 1711, tr.93)

Cách buộc tội này cho thấy dưới mắt nhà Nguyễn, Công ty Đông Ấn của Anh đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ của xứ Đàng Trong trên Côn Đảo, lại còn tỏ thái độ ngạo mạn. Ngoài ra, lời buộc tội thứ ba hé lộ cho ta thấy có sự căng thẳng trong quan hệ Việt – Campuchia thời bấy giờ liên quan đến quyền kiểm soát cửa sông Cửu Long cũng như thủy lộ đi về kinh đô xứ Chùa Tháp.

Tuy nhiên, có một chi tiết mà Quốc Sử Quán Triều Nguyễn đã ghi không đúng: viên “ngũ ban” Cunningham không chết trên đường giải về kinh, mà ông ta đã được tha sau mấy tháng bị cật vấn và cung khai, và đã về đến thương điếm Anh ở Banjarmasin.

Tóm lại, về “cuộc nổi dậy” của lính Macassar trên Côn Đảo hơn 300 năm trước, rất nhiều tài liệu đã nêu ra những nguyên nhân hời hợt, dễ dãi, tuy có thể không sai, nhưng phiến diện, và làm sai lệch bản chất của vấn đề. Vì thế, việc đối chiếu tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau luôn luôn có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu thấu đáo các sự kiện lịch sử.

Tài liệu tham khảo

Asiatic Journal, 1822. A Succinct Historical Narrative of the East-India Company’s Endeavours to Form Settlements and to Extend and Encourage Trade in the East, and of the Causes by which those Endeavour’s have beenfrustrated. Vol XIII January-June 1822.

Bruce J. 1810. Annals of the Honorable East-India Company: From Their Establishment by the Charter of Queen Elizabeth, 1600, to the Union of the London and English East-India Companies, 1707-8. Volume 3. London: Black, Parry, and Kingsbury.

Careri Gemelli G.F. 1704. A Voyage round the World, trong A Collection of Voyages and Travels, Vol. IV, London: Awnsham & J. Churchill.

Cope 1754. A New History of the East-Indies with brief observations on the Religion, Customs, Manners and Trade of the Inhabitants. London: M. Cooper, W. Reeve and C. Sympson,

Cordier H. 1883. Mémoires divers sur la Cochinchine. Revue de l’Extrême-Orient, no 2. Paris: Ernest Leroux.

Dampier W. 1699. A New Voyage round the World. Vol. I. London: James Knapton.

d’Après de Mannevillette J.B. 1745. Routier des côtes des Indes Orientales et de la Chine. Paris: Ch.J.B. Delbspine.

Dương Kiều Linh 2013. Góp thêm một số tư liệu về Côn Đảo (từ cách nhìn của báo chí Sài Gòn trước 1975). Tạp chí Khoa học và Phát triển, Vol.16, No.X1-2013.

Hamilton A. 1724. A new account of the East Indies, Tome 2. Edinburgh: The King’s Printing-house in Craig’s Closs.

Hồ Bạch Thảo, 2019. Quân chúa Nguyễn bảo vệ biển đảo, xua đuổi người Âu Châu. Trên trang Tri thức Việt Nam https://trithucvn.net/van-hoa/quan-chua-nguyen-bao-ve-bien-dao-xua-duoi-nguoi-au-chau.html

Lockyer Ch. 1711. An Account of the Trade in India. London: Samuel Crouch.

Navarette D.F. 1704. “An Account of the Empire of China, Historical, Political, Moral and Religious”, trong A Collection of Voyages and Travels Vol.1. London: Awnsham & J.Churchill. Dịch từ nguyên bản tiếng Tây Ban Nha Tratados Historicos, Politicos, Ethicos, y Religiosos de la Monarchia de China (1676).

Septans A. 1887. Les commencements de l’Indo-Chine française. Paris: Challamel Aîné.

Tegg T. & Curtis T. 1829. The London Encyclopaedia: Or, Universal Dictionary of Science, Art, Literature, and Practical Mechanics, Volume 6. London: Thomas Tegg, 73, Cheapside.

Thanh Nghị 1951. Việt Nam Tân Tự Điển. Sài Gòn: Nhà xuất bản Thời Thế.

Trần Văn Quế 1945. Côn Lôn Sử Lược. Sài Gòn: Nxb Thanh Hương Tùng thư.

Chú thích:

[1] Xem tạp chí Xưa & Nay, số tháng 7 năm 2019.

[2] Chúng tôi sử dụng bản tiếng Anh trong bộ A Collection of Voyages and Travels (Vol. I), xuất bản năm 1704 tại London.

[3] Cordier (1883) ghi là Véret, nhưng Septans (1887) lại viết là Verret.

[4] Nguyên văn tiếng Pháp là lieue, là đơn vị đo chiều dài của các cường quốc hàng hải trong các thế kỷ trước (người Anh gọi là league, người Bồ Đào Nha gọi là légua, người Tây Ban Nha gọi là legua). Chiều dài của các đơn vị này khác nhau chút ít giữa các quốc gia. Theo cách tính của Pháp, đơn vị đo lường này có nhiều giá trị khác nhau: nếu là đơn vị hàng hải, 1 lieue bằng 1/20 dây cung của góc 10 ở đường xích đạo, tức là bằng 1/7.200 chu vi trái đất, tương đương 5.556m, nghĩa là bằng 3 mile. Chúng tôi dịch lieuedặm lớn, để phân biệt với mille (tiếng Anh: mile) thường được dịch là dặm (1.609m hoặc 1.852m).

[5] Trong bài viết này, chúng tôi dùng từ Mã Lai theo nghĩa rộng, dùng để chỉ tất cả các tộc người sống trên các đảo quanh bán đảo Mã Lai, chứ không phải chỉ riêng cư dân của Liên bang Malaysia.

[6] Lingua Franca là thuật ngữ ngôn ngữ học xã hội, dùng để chỉ một loại ngôn ngữ pha tạp hình thành trong quá trình giao tiếp giữa các cộng đồng ngôn ngữ khác nhau.

[7] Năm 1687 Dương Ngạn Địch đã đóng quân ở Mỹ Tho theo sự bố trí của Chúa Nguyễn.

[8] Tức Palembang ngày nay (phía Nam đảo Sumatra).

[9] Nguyên văn: topazes (từ ngữ Anh-Ấn), là lính da đen theo đạo Thiên chúa trong quân đội Anh.

[10] Nguyên văn tiếng Ý là grano d’India, fichi, melaranci, bản tiếng Anh là Indian wheat, figs, oranges; bản tiếng Pháp là bled d’Inde, bananes, oranges.

[11] Tức công ty English Company Trading to the East Indies được thành lập năm 1698 để cạnh tranh với công ty cũ British East India Company, nhưng đến năm 1708 thì sáp nhập lại thành The Honourable East India Company.

Tiêu điểm

Bạn có thể quan tâm